Khám phá truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh hay nhất
Tuesday, 26 Jan 2021
Phiêu cùng tiếng Anh Từ vựng tiếng Anh

Khám phá truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh hay nhất

Advertisement

 

Chắc hẳn tuổi thơ của mỗi bạn đều gắn liền với những câu chuyện cổ tích Việt Nam đầy ý nghĩa qua lời kể của bà, của mẹ. Nhưng bạn có bao giờ đọc những câu truyện cổ tích đó bằng tiếng Anh hoặc đã kể cho người bạn nào của mình về những câu chuyện đó bằng tiếng Anh chưa? Đây chắc chắn sẽ là một trải nghiệm mới mẻ và thú vị dành cho bạn khi đọc truyện cổ tích tiếng Anh – những câu chuyện thân thuộc nhưng lại được viết bằng thứ ngôn ngữ khác. Trong bài viết này, các bạn hãy cùng Elight đi khám phá ngay những truyện cổ tích tiếng Anh siêu hay nhé. 

1 – Truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh – Lạc Long Quân và Âu Cơ

Once upon a time, in Linh Nam, there was a clan chief called Lac Long Quan. He was the son of Kinh Duong Vuong and Long Nu – Long Vuong’s daughter. Lac Long Quan was descended from the line of Dragon. Because of this he has superhuman strength and the skill to move on water like on the ground. When Lac Long Quan went to the Southeast seashore; he saw a fish monster (Ngu Tinh). This fish monster often appeared to disturb people for thousands of years. Lac Long Quan decided to kill this monster for the sake of people. He fought against the monster by using his sword and cutting it into three parts. The tail part became a long island because the island looked like a dragon’s fail, so people called it Bach Long Vi (Tail of the White Dragon) Island.

https://w.ladicdn.com/s550x350/5bd1678dbdf91d3ecbc6cb18/anh-ctw-pre-school-sach-06-20191008091927.png

Then, Lac Long Quan came to Long Bien. Here, there was an old fox with nine tails. It lived for more than thousand years and always harmed innocent people. Because Lac Long Quan was filled with deep pity for the people, he went with his sword to Ho Tinh’s den to kill the monster himself.The fight lasted for 3 days and nights. Finally, Lac Long Quan got rid of the monster. He entered the den to save the people, then he called on the water powers to power up the tide from the Cai River which around the den became an abyss. People of the time this Xac Cao Marsh. After Lac Long Quan killed Ho Tinh, he was told about the Moc Tinh on the way to the highlands of Phong Chau. Moc Tinh was a tree demon that trapped and ate people for his meals. For days and nights, Lac Long Quan travelled through many forests, looking from the tree to tree for the demon. After much difficulty, he found its hiding place. Lac Long Quan continuously fought with the devil for one hundred days and nights. In the end, Lac Long Quan had a brilliant idea. He used some musical instruments such as gongs and tom-toms to make the demon scared and it ran away toward the Southwest.

When Lac Long Quan finished destroying all the demons, he saw that the people in this region were still very poor; so he showed them the way to grow rice, to cook rice in bamboo tubes and how to cut trees to build piled houses to protect from dangerous animals. Lac Long Quan also showed the people the benefit of becoming a good person. They were so grateful for his action that they built him a beautiful place on a high mountain. Lac Long Quan did not live in the beautiful palace – he usually went back to stay  at his mother’s palace under the sea. Before he left, he told everyone: “whenever there is a danger, call me. I will be back right away”. At that time, Lac Long Quan travelled everywhere. He met Au Co, a very beautiful girl. Au Co was a daughter of King De Lai and she was a fairy descendent. Because Au Co was so impressed with Lac Long Quan’s talent, she fell in love with him and they got married. After Lac Long Quan and Au Co lived together for a while, Au Co fell pregnant. She gave birth to a pouch filled with one hundred eggs. After 7 days, each egg hatched into one son.The boys grew up as quickly. All of them were handsome, strong and smart. Although Lac Long Quan lived happily with his children, he missed the Coast very much.

One day, Lac Long Quan and Au Co decided to divide the areas for them to govern. Au Co went to the highlands and Lac Long Quan went to the Coast. However, they made a promise that they would help each other out in dangerous situations. Then Lac Long Quan said goodbye to Au Co. Fifty children followed Lac Long Quan to the Coast and fifty children followed his wife to the highlands. One hundred children of Lac Long Quan and Au Co were the ancestors of Bach Viet people. The eldest son stayed in Phong Chau and became the King of Van Lang state. He took the title of Hung Vuong (Hung King). From then on, all succeeding kings also took this title. Lac Long Quan was the founder of Linh Nam, bringing peace for the people there. Hung King was the founder of the Van Lang Kingdom and the Hung King dynasty succeeded through 18 kings. Because of the legend of Lac Long Quan and Au Co, Vietnamese people call themselves “the children of the Dragon and the fairy”.

Khoá học trực tuyến ELIGHT ONLINE được xây dựng dựa trên lộ trình dành cho người mất gốc. Bạn có thể học mọi lúc mọi nơi hơn 200 bài học, cung cấp kiến thức toàn diện, dễ dàng tiếp thu với phương pháp Gamification.

Khoá học trực tuyến dành cho:

☀ Các bạn mất gốc Tiếng Anh hoặc mới bắt đầu học Tiếng Anh nhưng chưa có lộ trình phù hợp.

☀ Các bạn có quỹ thời gian eo hẹp nhưng vẫn mong muốn giỏi Tiếng Anh.

☀ Các bạn muốn tiết kiệm chi phí học Tiếng Anh nhưng vẫn đạt hiệu quả cao

Dịch nghĩa tiếng Việt

Ngày xửa ngày xưa, ở Lĩnh Nam có một thủ lĩnh tên Lạc Long Quân, vốn là con trai của Kinh Dương Vương và Long Nữ – con gái của Long Vương. Chàng vốn nòi Rồng có sức khỏe hơn người, lại có tài đi lại dưới nước như đi trên cạn. Đến vùng bờ biển Đông Nam, Lạc Long Quân gặp một con cá thành tinh đã mấy ngàn năm tung hoành ngang dọc. Lạc Long Quân quyết tâm giết loài yêu quái, trừ hại cho dân. Chàng giao chiến với yêu quái, rồi một gươm chém Ngư Tinh thành ba khúc. Khúc đuôi biến thành một hòn đảo dài có hình cong lên như đuôi rồng, nên về sau này được gọi là Bạch Long Vĩ.

Sau đó Lạc Long Quân đến Long Biên. Ở đây có con cáo chín đuôi sống đến hơn nghìn năm, chuyên hãm hại dân lành. Lạc Long Quân thương dân, một mình một gươm đến sào huyệt Hồ tinh. Sau ba ngày giao chiến cuối cùng tiêu diệt được nó, chàng vào hang cứu người rồi sai các loài thủy tộc dâng nước sông Cái, xoáy hang cáo thành một vực sâu, người đương thời gọi là đầm Xác Cáo. Dẹp yên nạn Hồ Tinh, Lạc Long Quân đi ngược lên vùng rừng núi đến đất Phong Châu. Ở vùng này có một yêu được gọi là Mộc Tinh chuyên bắt người để ăn thịt. Lạc Long Quân phải luồn hết rừng này đến rừng kia và qua nhiều ngày gian khổ mới tìm thấy chỗ con yêu. Lạc Long Quân giao chiến với nó trăm ngày đêm. Cuối cùng Lạc Long Quân phải dùng đến những nhạc cụ như chiêng, trống làm nó khiếp sợ và chạy về phía Tây Nam.

Diệt xong được nạn yêu quái, Lạc Long Quân thấy người dân nơi đây còn rất nghèo, vì thế chàng dạy họ cách trồng lúa, nấu cơm bằng ống tre và cách dựng nhà cao từ cây để tránh thú dữ. Chàng còn dạy dân biết đạo làm người. Dân cảm ơn đức ấy, xây cho Lạc Long Quân một tòa cung điện nguy nga trên một ngọn núi cao. Nhưng Lạc Long Quân không ở, thường về quê mẹ ở dưới thủy phủ và dặn dân chúng rằng: Hễ có tai biến gì thì hãy gọi ta, ta sẽ về ngay. Bấy giờ Lạc Long Quân đi chu du khắp nơi. Chàng gặp được Âu Cơ là con của Đế Lai, tài sắc vẹn toàn. Âu Cơ vốn là dòng tiên cảm phục Lạc Long Quân trí dũng hơn người nên hai người đã kết duyên vợ chồng. Lạc Long Quân ở với Âu Cơ được ít lâu thì Âu Cơ có mang, sinh ra một cái bọc. Sau bảy ngày cái bọc nở ra một trăm quả trứng. Mỗi trứng nở ra một người con trai. Trăm người con trai đó lớn lên như thổi, tất cả đều xinh đẹp, khỏe mạnh và thông minh tuyệt vời. Nhiều năm trôi qua, Lạc Long Quân sống đầm ấm bên cạnh đàn con, nhưng lòng vẫn nhớ thủy phủ.

Một hôm Lạc Long Quân bàn với Âu Cơ sẽ chia ra mỗi người một phương, cùng nhau cai quản bờ cõi. Âu Cơ lên núi, Lạc Long Quân xuống biển, gặp sự nguy hiểm thì cùng tương trợ lẫn nhau. Sau đó Lạc Long Quân từ giã Âu Cơ. Năm mươi người con theo Lạc Long Quân xuống biển, năm mươi người con theo Âu Cơ lên núi. Trăm người đó trở thành tổ tiên của người Bách Việt. Người con trưởng ở lại đất Phong Châu được tôn làm vua nước Văn Lang, lấy hiệu là Hùng Vương. Ngôi vua đời đời gọi chung một danh hiệu là Hùng Vương. Lạc Long Quân là người mở mang cõi Lĩnh Nam, đem lại sự yên ổn cho dân. Vua Hùng là người dựng nước, truyền nối được 18 đời. Do sự tích Lạc Long Quân và Âu Cơ, nên dân tộc Việt Nam vẫn kể mình là dòng giống Tiên Rồng.

∠ ĐỌC THÊM: Tổng hợp truyện cổ tích tiếng Anh phần 1

2 – Truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh – Thánh Gióng

In the reign of Emperor Hung-Vuong the Sixth, Vietnam was a peaceful and prosperous country. The Red River was always crowded with boats. Paddy fields extended to the horizon. People were happy. Then suddenly, from the North came the An invaders. On their war paths, they burned down cities, murdered innocent people and committed all kinds of cruel acts. They destroyed most of the country and made life miserable for the people. The army of the emperor could not stop the enemy. Emperor Hung-Vuong sent messengers everywhere, trying to find someone who could drive the An invaders out. Young men gathered around those messengers, and listened to the appeal of the emperor. But nobody seemed to be able to save the country. At the time, in the village of Phu-Dong, lived an old couple with their baby son. Their son was already three years old, and yet, he could neither sit up, nor could he say a word. His old parents were very unhappy. One day, the emperor’s messenger came to the village. He started to read the appeal out loud. Giong, as the boy was named, sat up. He called out his parents and told them he wanted to talk to the messenger. Although the old father was greatly surprised at his son’s sudden ability to talk, he rushed out to ask the messenger to come inside. Before the messenger could say anything, Giong asked the man to return to the capital and told the emperor that he needed an iron horse, an armor and an iron rod to fight the An invaders. The words from the little boy sounded so clear and so powerful that the messenger quickly obeyed and went back to the imperial court. At the request of the messenger, the emperor ordered that all iron from the imperial warehouse be made available. He called in every blacksmith of the country to the capital. There, they worked day and night melting down the iron. Then they made a huge horse, a large armor and a long rod of iron. During this time, at the village of Phu-Dong, Giong started to eat. He ate more and more each day and he grew up very fast. People in the village had to bring more rice to feed Giong who finished one large pot of rice after another. He finally grew up to be a giant. Then came the day when the imperial guards brought the iron horse, the armor and the rod to Phu-Dong. Giong stood up, stretched his arms and put on the armor. He seized the rod and quickly mounted the iron horse. Soldiers and young men from the village followed him to the front. Giong rode off on his horse. The iron horse roared like thunder and breathed fire from its nostrils. Behind were soldiers carrying swords and lances vowing to fight the enemies. When he saw the enemies, Giong sped forward, charging straight into the An invaders. The fire from the nostrils of the iron horse burned many enemy soldiers to death, Giong struck at the enemies with his iron rod. The enemy soldiers soon broke ranks and fled, leaving behind their dead and wounded. The enemies were reinforced with their best generals. Giong again rode into the battle and killed most of the An generals. As a result, the iron rod in his hand broke and became useless. Giong pulled scores of bamboo trees from a nearby forest and used them to fight the enemies. Then the trees broke, he pulled up others along the way. The last enemy general was killed with those bamboo trees. The invaders were defeated. Giong ordered his soldiers to return to the capital to bring the victorious news to the emperor. Then Giong rode his iron horse up the Soc Son mountain where he removed his armor and disappeared. People believed he went up to heaven. Emperor Hung-Vuong thought it was God who had sent Giong down to save the country. He gave orders that a temple be built in memory of Giong. He also awarded Giong the title of Heavenly King of Phu-Dong. A temple can still be found not far from the place where he ascended to heaven, and every year there is a festival to honor Giong.

∠ ĐỌC THÊM: Tổng hợp truyện cổ tích tiếng Anh phần 2

Dịch nghĩa tiếng Việt

Vào thời đại của Vua Hùng thứ sáu, Sông Hồng luôn tấp nập thuyền qua lại. Những cánh đồng lúa mở rộng đến chân trời. Mọi người dân đều có một cuộc sống hạnh phúc. Bỗng nhiên, từ phương Bắc, giặc Ân tràn tới. Trên con đường xâm lược nước ta, chúng đốt cháy các thành phố, giết hại những người vô tội và thực hiện những hành vi độc ác. Chúng đã phá hủy hầu hết đất nước và làm cho cuộc sống của người dân trở nên khốn khổ. Quân đội của hoàng đế không thể ngăn chặn kẻ thù. Hoàng đế Hùng Vương gửi sứ giả đến khắp mọi nơi, cố gắng tìm một người có thể đánh đuổi quân xâm lược. Thanh niên tụ tập để nghe sứ giả truyền lệnh của hoàng đế. Nhưng không ai có thể cứu được đất nước. Vào thời điểm đó, tại làng Phù Đổng, có một cặp vợ chồng già sống với một người con trai. Con trai của họ đã được ba tuổi, nhưng chưa bao giờ ngồi dậy hay cất tiếng nói. Cha mẹ già của cậu rất đau khổ. Một ngày nọ, sứ giả của hoàng đế đến làng và truyền lệnh của hoàng thượng. Gióng liền ngồi dậy. Cậu gọi cha mẹ và nói với họ rằng cậu muốn nói chuyện với sứ giả. Mặc dù người cha già đã rất ngạc nhiên khi con trai mình bỗng dưng biết nói, nhưng ông vẫn vội vã ra ngoài để yêu cầu sứ giả vào trong. Trước khi sứ giả có thể nói bất cứ điều gì, Gióng yêu cầu người đó quay lại kinh đô và nói với hoàng đế rằng cậu cần một con ngựa sắt, áo giáp sắt và một thanh sắt để chống lại quân xâm lược Ân. Những lời nói của cậu bé nghe rất rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi sứ giả nhanh chóng vâng lời và trở về triều đình. Theo yêu cầu của sứ giả, hoàng đế ra lệnh rằng tất cả sắt từ nhà kho hoàng gia sẽ được sử dụng và nhà vua đã kêu gọi mọi thợ rèn của đất nước đến kinh đô. Ở đó, họ làm việc ngày đêm để nung chảy những thanh sắt. Sau đó, họ làm một con ngựa khổng lồ, một bộ giáp lớn và một cây gậy sắt dài. Trong lúc này, tại làng Phù Đổng, Gióng bắt đầu ăn. Cậu ăn nhiều hơn và nhiều hơn nữa mỗi ngày và lớn lên rất nhanh. Người dân trong làng phải mang thêm gạo để cho Gióng ăn xong một nồi cơm lớn. Cuối cùng, Gióng lớn lên thành một người khổng lồ. Sau đó, đến ngày khi các vệ sĩ hoàng gia mang ngựa sắt, áo giáp và thanh đến Phù Đổng, Gióng đứng dậy, duỗi tay và mặc áo giáp. Cậu nắm lấy cây gậy và nhanh chóng ngồi lên con ngựa sắt. Những người lính và thanh niên từ làng đi theo cậu. Gióng cưỡi ngựa. Con ngựa sắt gầm gừ như sấm sét và thở ra từ lỗ mũi. Phía sau là những người lính mang kiếm với quyết tâm chống lại quân xâm lược. Khi nhìn thấy kẻ thù, Gióng lao về phía trước, lao thẳng vào quân xâm lược Ân. Ngọn lửa từ lỗ mũi của con ngựa sắt đốt cháy nhiều binh lính địch đến chết, Gióng đánh vào kẻ thù bằng cây gậy sắt của mình. Quân lính địch nhanh chóng phá vỡ hàng ngũ và chạy trốn, để lại vô vàn người chết và bị thương. Quân xâm lược được hỗ trợ bởi các tướng lĩnh tốt nhất. Gióng một lần nữa đi vào trận chiến và giết chết hầu hết các tướng Ân. Kết quả là, thanh sắt trong tay cậu vỡ ra và trở nên vô tác dụng. Gióng liền lấy những cây tre trong làng làm vũ khí chống lại kẻ thù. Tướng quân của địch cuối cùng bị giết bởi những cây tre đó. Những kẻ xâm lược đã bị đánh bại. Gióng ra lệnh cho binh lính của mình trở về kinh đô để mang tin tức chiến thắng cho hoàng đế. Sau đó Gióng cưỡi ngựa sắt của mình lên núi Sóc Sơn, cậu trút bỏ áo giáp của mình và biến mất. Mọi người đều nghĩ rằng cậu đã về trời. Hoàng đế Hùng Vương nghĩ rằng đó là Đức Chúa Trời đã sai Gióng xuống để cứu nước. Ngài ra lệnh cho một ngôi đền được xây dựng để tưởng nhớ Gióng. Ngài cũng trao tặng Gióng danh hiệu Vua Thiên Thượng của Phù Đổng. Ngôi đền được đặt ngay tại nơi Gióng đã ra đi, và hàng năm có một lễ hội để tôn vinh Gióng.

∠ ĐỌC THÊM: Tuyển tập những truyện ngắn tiếng Anh hay và dễ đọc

3 – Truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh – Sơn Tinh Thủy Tinh

Once upon a time, Emperor Hung Vuong the Eighteenth had a beautiful daughter, called Mi Nuong Princess. Her beauty was so renowned that many royal suitors from foreign lands came to ask the Emperor for her hand. However, he could not find anyone that is worthy for his daughter. The King wanted My Nuong to marry a really great man who has strong power and had endless love for her. One day, two strangers came to see the King. They both proposed to marry the princess. The King asked them for their names. One bowed his head and introduced himself and said that he was Son Tinh—the God of the mountain—he reigned on the height of Tan Vien mountain and governed all creatures above. The other one said in a polite voice that he was Thuy Tinh—God of the sea—and he governed all living creatures below sea level. These two proclaimed to admire the beauty and kindness of the princess and willing to do anything to win her heart. The king asked these two handsome young men to present their power. The God of the Sea waved his hands and the wind started blowing. He spoke a word and the rain started falling heavily. He kept waving his hands and the sea level rose. Everyone was afraid, except for the God of the Mountain, he asked the King to present his power. He waved his hand and many trees grew up quickly and made a big forest soon. He whispered a word and many mountains and hills sprouted up. He kept waving his hands and all the hills and mountains started to move. He could not decide which one is the winner; they were both equally great. He then announced that, in the following morning whoever showed up to court the earliest with the wedding present would marry the princess. “Wedding presents” include 100 pots of glutinous rice and 100 banh chung (square rice cakes, a nine tusk elephant, a nine spur cock, a nine color hair horse” – the King said. The two Gods hurried back into their world to make preparations. The following day, just in the early morning, Son Tinh brought all the gifts to bring My Nuong to the mountain. Thuy Tinh came later, could not get married, got angry, and brought troops to get Ny Nuong back. Son Tinh did not flinch. He used miracles to pick up hills, move mountains, build land to prevent floods. The two sides fought for several months, in the end, Son Tinh was still steady and the Glass was exhausted. The Water Spirit had to withdraw his troops. However, Thuy Tinh still never forgets the past. Every year around July and August, Thuy Tinh raises water to fight Son Tinh.

Dịch nghĩa tiếng Việt

Ngày xửa ngày xưa, vua Hùng Vương thứ mười tám có một cô con gái xinh đẹp, tên là  Mi Nương. Nhan sắc của nàng xinh đẹp đến mức biết bao vương công quý tộc từ các vùng đất nước ngoài đến diện kiến Hùng Vương để cầu hôn nàng. Thế nhưng ngài chưa tìm thấy ai xứng đáng với con gái mình. Hùng Vương muốn Mỵ Nương kết hôn với một người đàn ông thực sự tuyệt vời, người sở hữu sức mạnh mạnh mẽ và có tình yêu bất tận với nàng. Một ngày nọ, có hai người lạ đến diện kiến vua Hùng. Cả hai đều muốn cưới công chúa. Nhà vua hỏi cao danh quý tánh của hai chàng trai. Một người cúi đầu và tự xưng mình là Sơn Tinh, Chúa vùng non cao, trị vì trên đỉnh núi Tản Viên và cai quản tất cả các sinh vật ở trên núi. Một người khác với giọng lịch thiệp, chàng là Thủy Tinh, Chúa vùng nước thẳm và chàng cai quản tất cả các sinh vật dưới biển sâu. Hai chàng bày tỏ lòng ngưỡng mộ nhan sắc và tấm lòng nhân hậu của công chúa và sẵn sàng làm bất cứ điều gì để có được trái tim nàng. Nhà vua yêu cầu hai chàng thanh niên đẹp trai phô diễn quyền lực của mình. Thần biển vẫy tay và gió bắt đầu thổi. Thần vừa thốt lời thì mưa bắt đầu rơi nặng hạt. Thần tiếp tục vẫy tay thì mực nước biển dâng lên. Mọi người đều sợ, ngoại trừ Sơn Tinh, Hùng Vương yêu cầu chàng phô diễn quyền lực của mình. Chàng vẫy tay thì cây cối đua nhau mọc lên nhanh chóng và tạo thành một khu rừng lớn. Thần thì thầm thì chẳng mấy chốc nhiều ngọn núi đồi mọc lên. Chàng tiếp tục vẫy tay thì tất cả những ngọn đồi núi bắt đầu di chuyển. Vua Hùng không thể quyết định ai là người chiến thắng cả hai chàng trai đều tuyệt vời như nhau. Sau đó ngài phán rằng, vào sáng hôm sau, bất cứ người nào mang sính lễ đến sớm nhất sẽ được cưới công chúa. “Lễ vật bao gồm 100 ván cơm nếp và 100 tập bánh chưng,voi chín ngà, gà chin cựa, ngựa chín hồng mao” ông vua cho biết. Hai vị thần vội vã trở lại vùng đất của mình để chuẩn bị. Hôm sau, mới tờ mờ sáng, Sơn Tinh đã đem ra đầy đủ lễ vật đến rước Mị Nương về núi. Thuỷ Tinh đến sau, không lấy được vợ, đùng đùng nổi giận, đem quân đuổi theo đòi cướp Mị Nương. Sơn Tinh không hề nao núng. Thần dùng phép lạ bốc từng quả đồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, ngăn chặn dòng nước lũ. Hai bên đánh nhau ròng rã mấy tháng trời, cuối cùng Sơn Tinh vẫn vững vàng mà sức Thuỷ Tinh đã kiệt. Thần Nước đành rút quân. Tuy vậy Thủy Tinh vẫn không quên được chuyện xưa. Hàng năm cứ vào khoảng tháng bảy, tháng tám là Thủy Tinh lại dâng nước lên đánh Sơn Tinh.

∠ ĐỌC THÊM: Tổng hợp những caption hay cho Facebook

4 – Truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh – Sự tích bánh chưng bánh dày

Emperor Hung-Vuong had many sons. Some pursued literary careers. Others excelled in martial arts. The youngest prince named Tiet – Lieu, however, loved neither. Instead, he and his wife and their children chose the countryside where they farmed the land.

One day, toward the end of the year, the emperor met with all his sons. He told them whoever brought him the most special and unusual food would be made the new emperor. Almost immediately, the princes left for their homes and started looking for the most delicious food to offer the emperor. Some went hunting in the forests and brought home birds and animals which they prepared into the most palatable dishes. Some others sailed out to the open sea, trying to catch fish, lobsters and other much loved seafood. Neither the rough sea nor the violent weather could stop them from looking for the best gifts to please the emperor.

In his search, Tiet-Lieu went back to the countryside. He saw that the rice in his paddy fields was ripe and ready to be harvested. Walking by a glutinous rice field, he picked some golden grains on a long stalk. He brought them close to his nose and he could smell a delicate aroma.

His entire family then set out to harvest the rice, Tiet-Lieu himself ground the glutinous rice grains into fine flour. His wife mixed it with water into a soft paste. His children helped by building a fire and wrapping the cakes with leaves. In no time, they finished, and in front of them lay two kinds of cakes: one was round and the other was square in shape.

The round cake was made with glutinous rice dough and was called “banh day” by Tiet-Lieu. He named the square shaped cake “banh chung” which he made with rice, green beans wrapped in leaves. Everybody was extremely happy with the new kind of cakes.

On the first day of Spring, the princes took the gifts of their labor and love to the emperor. One carried a delicious dish of steamed fish and mushrooms. Another brought with him a roasted peacock and some lobsters. All the food was beautifully cooked.

When it was Tiet-Lieu’s turn to present his gifts, he carried the “banh chung” and his wife carried the “banh day” to the emperor. Seeing Tiet-Lieu’s simple offerings, other princes sneered at them. But after tasting all the food brought to court by his sons, the emperor decided that the first prize should be awarded to Tiet-Lieu.

The emperor then said that his youngest son’s gifts were not only the purest, but also the most meaningful because Tiet-Lieu had used nothing except rice which was the basic foodstuff of the people to make them. The emperor gave up the throne and made Tiet-Lieu the new emperor. All the other princes bowed to show respect and congratulated the new emperor.

Dịch nghĩa tiếng Việt

Ngày xưa, vua Hùng Vương có 18 người con. Riêng hoàng tử thứ 18, tên là Lang Liêu, mồ côi mẹ rất sớm. Tết năm đó, vua cha truyền lịnh cho các con trai, rằng ai mang đến cho nhà vua loại bánh nào tuyệt hảo nhất, sẽ được vua truyền ngôi.

Những hoàng tử kia còn có mẹ bên cạnh. Các bà mẹ ra sức chuẩn bị làm các thứ bánh tuyệt hảo cho con trai mình.

Riêng hoàng tử Lang Liêu vì mồ côi mẹ nên chàng rất lo lắng. Lang Liêu về nhà, trằn trọc suy nghĩ suốt đêm. Mệt quá, nên chàng ngủ thiếp đi.

Trong cơn mê, có một bà tiên xuất hiện và khuyên Lang Liêu rằng : “Con hãy nghĩ đến một thứ bánh nào tượng trưng cho công lao của cha mẹ đã dành cho con cái. Lang Liêu sực tỉnh. Công ơn của cha mẹ nuôi dưỡng con cái thật là lớn lắm thay.

Suy nghĩ mãi, cuối cùng, hoàng tử Lang Liêu lấy đậu và nếp, làm ra bánh dầy và bánh chưng.

Đến kỳ hạn, các hoàng tử lần lượt đem những loại bánh mà mình đã đi khắp nơi, nhờ cậy nhiều người làm giúp đến. Vua cha nếm qua các thứ bánh, gật gù khen thưởng.

Cuối cùng, vua nếm thử loại bánh của hoàng tử Lang Liêu tự mình làm lấy . Vua lấy làm ngạc nhiên, hỏi Lang Liêu :

– Loại bánh này vị ngon và lạ quá. Con hãy giải thích cho ta xem.

– Thưa vua cha, bánh này tượng trưng cho công ơn sinh thành, dưỡng dục của cha mẹ đối với con cái . Bánh dày hình tròn, tượng trưng cho trời . Bánh chưng hình vuông tượng trưng cho đất. Bởi vì, công ơn cha mẹ lớn tựa trời đất. Đậu, nếp, và thịt heo tượng trưng cho công lao nuôi dưỡng, chăm sóc của cha mẹ đã dành cho con cái … bằng những món ăn mà bất cứ ai cũng cần để lớn lên …

Vua nghe thấy chí lý, lại thấy bánh ăn mặn mà hương vị, bèn truyền ngôi cho hoàng tử Lang Liêu .Sau khi lên ngôi, Lang Liêu truyền lệnh cho cả nước giữ tập tục ăn bánh dầy, bánh chưng vào dịp đầu năm để tưởng nhớ công ơn của cha mẹ.

∠ ĐỌC THÊM: Tổng hợp những câu đố tiếng Anh

5 – Truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh – Sự tích quả dưa hấu

Mai An Tiêm was an adopted child of King Hùng. Although he was considered a prince, he always liked working and doing everything by himself. The King loved him very much and usually gave him many things. While other people looked at things that the King gave them as the most precious things, An Tiêm did not do like that. He usually said that something which was not made by himself meant nothing but a debt. Therefore, some people told the King what he said. The King was so furious that he told his men to take An Tiêm and his family to a wild place – an island – where no one lived “to see how he manages to survive without my help”, said the King.

So, Mai An Tiêm, his wife and his children were brought into a boat to the wild island. After that, the escorted soldiers left them there. They could not see the mainland or any boats around. They had nothing there, no food, no water, nothing to work. The only thing An Tiêm was permitted to keep was an old blade that he had since he was a little boy. His children cried. His wife was so scared. An Tiêm told them not to be too worried: “Trees and animals can live here, so can us. We have our hands that help we survive.” They found a cave to stay. An Tiêm told his wife and his daughter to find some wild plants and wild fruits while he and his son tried to get some animals by traps. They lived that way, picked up wild plants, caught animals. They used the old blade as a thing to dig into soil to plant wild vegetables around the cave. Their hands got hurt. They were tired but they did not give up. However, after a short time, animals got used to with their traps so they knew how to avoid those traps. It became harder and harder to find food.

One day, An Tiêm went to the beach while a bird was eating something, suddenly seeing him, the bird hurried and flew away, leaving a piece of fruit on the ground. That was a piece of a strange fruit that he had not ever seen before. The skin of the fruit was green, the flesh was red and the seeds were black. An Tiêm told himself that if a bird could eat this kind of fruit, so could him. He tasted a bit – it was sweet and made him feel comfortable. So he kept the seeds and planted them.

Some days after that he saw the first sprouts show up. An Tiêm and his family were very happy. They looked after those plants very carefully. They watered them and protected them from animals. Those people were excited to see the first flowers and then, the first fruits were there. They saw those fruits bigger and bigger day by day. However, An Tiêm and his family did not when those fruits ripe. That morning, they were surprised to hear the noise of ravens and did not know what happened. They went out and saw some birds eating their fruits. When seeing An Tiêm and his family, those birds hurriedly flew away. Now they knew it was time to pick their fruit. So excited, they tasted the first fruit and were so happy to know that from now on, they did not have to worry about how to survive here. This kind of fruit could help them. They called the plant dưa hấu (watermelon).

They kept planting dưa hấu and soon they had a large garden with many fruits waiting for them. Looking at ripe fruits and then, looking at the sea, An Tiêm wondered how he could tell other people about his situation. Finally, he had an idea. He picked up two fruits, came to the beach and used his blade to carve some words on the fruits. He put them into water, hope waves brought them to someone. Many fruits were thrown into the sea but no boat appeared. An Tiêm still kept sending his messenger every day.

One day, a boat came to the island. The owner wanted to see who planted such a kind of delicious fruit and wanted to buy it to bring into the mainland. From that day, An Tiêm got rice and things to work. He even had enough things to build a small house. Many boats came to buy fruits. Many people came to learn how to plant dưa hấu. The island was no longer a wild place. An Tiêm still thought about the King as his father and he sent some fruits to the King’s palace.

About the King, he missed An Tiêm a lot and soon felt regret about his action but he was too ashamed to admit. He thought An Tiêm was dead. One day, he tasted a very strange fruit that was really delicious. Curiously, he asked about it and was surprised to know that it was sent to him as An Tiêm’s presents. He was so glad An Tiêm was alive and could plant such a good kind of plant. The King sent a boat to bring An Tiêm and his family back to the mainland. He also apologized for what he had done before. An Tiêm and his family were very happy to come back to their house. They brought seeds of dưa hấu with them and taught others to plant.

Dịch nghĩa tiếng Việt

An Tiêm sống vào đời vua Hùng thứ mười tám. Ông vốn là người ở một vùng biển xa xôi phương Nam, bị bọn thuyền buôn bắt làm nô lệ rồi đem dâng vua từ hồi nhỏ. Lớn lên An Tiêm tỏ ra thông minh, tháo vát và có tính kiên nhẫn lạ thường, được giao việc gì đều làm kỳ được mới yên lòng.

Nhà vua rất tin dùng: tên Mai An Tiêm chính là do vua ban cho. Nhà vua còn cho Mai An Tiêm một người thiếp và nhiều bổng lộc khác. Vợ chồng An Tiêm ăn ở với nhau hòa thuận sinh được một trai, một gái.

Ông thường nói: “Mọi thứ của cải trên đời đều do sức mình làm ra cả”. Có kẻ bảo ông: “Làm bề tôi, cơm áo vua ban cho, bổng lộc vua ban cho, nói như vậy là vong ân bội nghĩa”. Mai An Tiêm nghe vậy chỉ cười, không trả lời. Bọn nịnh thần liền tâu những chuyện như thế lên vua Hùng. Bọn chúng nói:

– Nay ông dám thổ lộ những lời bất bình như thế, mai kia chưa biết chừng đem làm phản trắc. Xin cho đầy ra một đảo ở ngoài biển khơi, thử xem ông ta có làm ra cái mà ăn không?

Nhà vua tuy mến An Tiêm, nhưng lo mất ngôi báu, nên nghe lời, đầy An Tiêm ra một hòn đảo ngoài cửa biển Nga Sơn thuộc tỉnh Thanh Hóa bây giờ. Vợ con An Tiêm cũng theo ra đảo. Thấy quang cảnh hoang vắng, bốn về sóng cỗ, người vợ ôm con mà khóc, An Tiêm lựa lời khuyên nhủ rồi vào rừng săn thú, hái quả, đem về nuôi vợ, con.

Một hôm, thấy trên tảng đá có ít phân chim, trong phân có những hạt đen nhánh, ông nhặt lên, lật đi, lật lại trong lòng bàn tay, mừng thầm. Ông nghĩ: “Đã là hạt, đem gieo chắc phải nảy mầm. Đã là quả chim ăn được, chắc người cũng phải ăn được”.

Hai vợ chồng bèn làm đất gieo hạt, chăm sóc. Cây mọc rồi lan ra khắp bãi. Rồi cây đơm hoa, kết quả, quả nào quả nấy lớn, to bằng đầu người, vỏ xanh mượt. An Tiêm lấy một quả bổ đôi ra thấy bên trong màu đỏ hồng, hạt đẹp, đen nhánh, ăn vào miệng vừa ngọt vừa thơm mát.

Hai vợ chồng vô cùng mừng rỡ, hái quả cất vào hang, tính chuyện ăn dần.

An Tiêm và vợ lại vỡ thêm đất, gieo hạt. Năm này qua năm khác, dưa mọc xanh um khắp đảo, kín đảo. Thuyền buôn qua lại ghé vào đảo, đổi các thứ lấy những trái dưa đó. Đời sống của vợ chồng con cái An Tiêm ngày càng sung túc.

Nhớ đất liền, An Tiêm lấy hàng trăm quả, khắc chữ, ký tên vào vỏ rồi thả xuống bể, hy vọng những quả dưa ngon lành này sẽ trôi dạt tới quê hương.

Có một lần, quân lính đi tuần trên bờ biển nhặt được, thấy chữ Mai An Tiêm đêm trình lên nhà vua. Vua cho sứ giả ra đảo tìm. Sứ giả về, đem chuyện ngoài đảo thuật lại và dâng vua một thuyền đầy những quả dưa lạ.

Nhà vua có ý hối hận đã buộc tội An Tiêm chỉ vì An Tiêm nói lời phải. Vua xuống chiếu cho An Tiêm về đất liền và nhận lại chức vụ cũ, trọng dụng như trước.

Sách Tiếng Anh Cơ Bản là bộ học liệu độc quyền do Elight xây dựng, cung cấp đầy đủ kiến thức nền tảng tiếng Anh bao gồm Phát Âm, Từ Vựng, Ngữ Pháp và lộ trình ôn luyện bài bản 4 kỹ năng Nghe, Nói, Đọc Viết.

Bộ sách này dành cho:

☀ Học viên cần học vững chắc nền tảng tiếng Anh, phù hợp với mọi lứa tuổi.

☀ Học sinh, sinh viên cần tài liệu, lộ trình tỉ mỉ để ôn thi cuối kỳ, các kì thi quốc gia, TOEIC, B1…

☀ Học viên cần khắc phục điểm yếu về nghe nói, từ vựng, phản xạ giao tiếp Tiếng Anh.

Trong bài viết trên Elight đã giới thiệu đến các bạn truyện cổ tích Việt Nam tiếng Anh hay và hấp dẫn nhất. Học tiếng Anh qua việc đọc truyện cổ tích vừa tạo cảm giác hứng thú lại vừa học được rất nhiều từ vựng nữa nhé. 

 

Advertisement